Series (3)
Coronal (C+ portal venous phase)

Lồng ruột ruột thừa (Appendiceal intussusception)
Nguồn gốc
Dữ liệu bệnh nhân
Bệnh sử lâm sàng
Tiền sử 3 năm tiêu chảy gián đoạn. Nội soi đại tràng và sinh thiết không phát hiện bất thường.
Chẩn đoán & Phát hiện
Chú giải chưa gắn khảo sát
THẢO LUẬN:
Bệnh nhân được khám để tìm nguyên nhân tiêu chảy mạn tính không đặc hiệu và trên CT phát hiện lồng ruột hoàn toàn của ruột thừa vào trong lòng ruột – dạng lồng ruột loại V McSwain 1. Sau đó bệnh nhân đã thực hiện phẫu thuật cắt bỏ một phần phần cuối của đại tràng (partial cecectomy). Khi tái khám sau phẫu thuật, tiêu chảy đã hết. Phân tích mô của đoạn đã cắt bỏ không thấy viêm xâm nhập; tuy nhiên, trong thành ruột thừa có phát hiện điểm rải rác của nội mạc tử cung (endometriosis).
Tỷ lệ mắc tất cả các dạng lồng ruột ruột thừa ước tính là 0,01%, dựa trên một nghiên cứu kohort 71.000 bệnh nhân trên 40 tuổi 2. Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp được báo cáo liên quan đến bệnh nhân dưới 10 tuổi, với tỉ lệ nam:nữ là 4:1 3.
Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này, bao gồm mucocele, ký sinh trùng, u neuroendocrine, adenocarcinoma, nốt sẹo, papilloma và tăng sinh hạch lympho 4. Trường hợp lồng ruột ruột thừa do nội mạc tử cung này là một trong những nguyên nhân hiếm, với tần suất được báo cáo là 0,05% 5 và chưa tới 30 trường hợp trong 50 năm qua 6.
Đồng tác giả: Dr. Kai Bin Law
Chẩn đoán
Lồng ruột ruột thừa (Appendiceal intussusception)
Chẩn đoán phân biệt
- 1.U tuyến biểu mô man tính manh tràng
- 2.U nang nhầy ruột thừa
- 3.U tế bào thần kinh nội tiết
Điểm giảng dạy
- “Lồng ruột ruột thừa là một tình trạng hiếm gặp, chiếm khoảng 0,01% các trường hợp, thường biểu hiện với các triệu chứng không đặc hiệu như tiêu chảy mạn tính.”
- “Nó được phân loại là lồng ruột loại V McSwain khi ruột thừa lồng hoàn toàn vào lòng manh tràng.”
- “Mặc dù thường gặp ở trẻ em, các trường hợp ở người lớn thường có điểm khởi đầu bệnh lý như nội mạc tử cung, khối u hoặc tăng sinh hạch lympho.”











