Mon, Jun 29
AI Trực tuyến
Series (3)
Coronal (C+ arterial phase)

CT•Coronal (C+ arterial phase)•1 / 98
Ca bệnhPhình ống mạch tĩnh mạch saphenous
Phình ống mạch tĩnh mạch saphenous
Nguồn gốc
Dữ liệu bệnh nhân
Tuổi60
Giới tínhM
Bệnh sử lâm sàng
Đau ngực.
Chẩn đoán & Phát hiện
DISCUSSION:
Biến chứng phổ biến nhất của các mạch ghép tĩnh mạch saphenous là tắc mạch (occlusion). Sự hình thành phình ống mạch (aneurysm) là hiếm, nhưng giống như mọi phình ống mạch, phình ống mạch tĩnh mạch saphenous (saphenous vein graft aneurysm) có thể vỡ.
Chẩn đoán
Phình ống mạch tĩnh mạch saphenous (saphenous vein graft aneurysm)
Chẩn đoán phân biệt
- 1.Phình động mạch cầu nối động mạch vành
- 2.Giả phình mạch ghép tĩnh mạch saphenous
- 3.Phình động mạch vành gốc
Điểm giảng dạy
- "Biến chứng phổ biến nhất của các mạch ghép tĩnh mạch saphenous là tắc mạch, trong khi sự hình thành phình mạch thì hiếm gặp."
- "Phình mạch ghép tĩnh mạch saphenous có nguy cơ vỡ, tương tự như các loại phình mạch khác."
- "Biểu hiện lâm sàng có thể bao gồm đau ngực, nhưng tình trạng này cũng có thể không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ."
Thảo luận
Các mạch ghép tĩnh mạch saphenous (SVG) thường được sử dụng trong phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG). Trong khi tắc mạch là chế độ thất bại thường xuyên nhất, xảy ra ở 10-20% bệnh nhân trong năm đầu tiên, phình SVG là một biến chứng hiếm gặp nhưng nghiêm trọng. Tỷ lệ mắc được ước tính là dưới 1% trong hầu hết các loạt ca bệnh. Những phình mạch này có thể là phình thật, liên quan đến tất cả các lớp thành mạch, hoặc giả phình (pseudoaneurysm) do sự gián đoạn trong thành mạch ghép. Nguyên nhân thường liên quan đến thoái hóa xơ vữa, suy yếu lớp trung mô hoặc chấn thương phẫu thuật. Mặc dù thường không có triệu chứng, phình SVG có thể biểu hiện bằng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim do tắc mạch huyết khối hoặc các triệu chứng chèn ép. Biến chứng thảm khốc nhất là vỡ, có thể dẫn đến chèn ép tim, máu màng phổi hoặc máu màng ngoài tim, mang lại tỷ lệ tử vong cao. Chẩn đoán thường được xác nhận qua chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA) hoặc chụp động mạch vành. Các chiến lược quản lý thay đổi từ cắt bỏ phẫu thuật đến loại bỏ qua da, tùy thuộc vào kích thước, triệu chứng và vị trí giải phẫu.






