Series (14)
Axial (C+ early arterial phase (liver))

Ước lượng tỉ lệ shunt phổi gan-pulmonary cho liệu pháp phóng xạ nội chọn (SIRT)
Nguồn gốc
Dữ liệu bệnh nhân
Bệnh sử lâm sàng
Viêm gan B mạn tính (Child Pugh A) với ung thư tế bào gan (giai đoạn 1B), sau phẫu thuật cắt gan trung tâm mở và cắt túi mật, phức tạp với seroma. CT gan đa pha để đánh giá lại.
Chẩn đoán & Phát hiện
THẢO LUẬN:
-
Mức alpha-fetoprotein trong huyết thanh là 1518 ng/ml.
-
Phương pháp tiếp cận qua động mạch cánh tay (transradial) để đưa ống vào động mạch gan có một số ưu điểm, bao gồm giảm mất máu, thời gian cố định vị trí chọc (2 giờ) ngắn hơn so với chọc động mạch đùi (6 giờ) sau thủ thuật.
-
Ung thư gan nguyên phát tái phát trong trường hợp này cho thấy ngấm thuốc dạng nốt ngoại vi (nodular peripheral arterial enhancement) thay vì ngấm thuốc thì động mạch (arterial enhancement) mạnh như trong ung thư tế bào gan điển hình. Tuy nhiên, ở pha tĩnh mạch cửa và pha trễ, nó cho thấy mẫu thải thuốc nhanh (rapid washout pattern) như trong ung thư tế bào gan điển hình.
-
Đột phá lớn đơn đoạn VIII của gan kèm nốt peritoneal trong trường hợp này đưa độ tuổi BCLC (Barcelona Clinic Liver Cancer) lên mức C (giai đoạn tiến triển).
-
Yttrium-90 được sử dụng cho radiaembolisation trong SIRT. Tỉ lệ shunt phổi (lung shunt fraction) > 10 % yêu cầu giảm liều trong SIRT. Nếu tỉ lệ shunt phổi > 20 % thì SIRT bị cấm do nguy cơ cao gây viêm phổi do bức xạ. Ngoài nghiên cứu shunt phổi, việc ngấm thuốc ngược (reflux of contrast) vào các hệ thống động mạch khác trong arteriogram gan, như động mạch dạ dày-tá tràng (gastroduodenal artery) và động mạch túi mật (cystic artery), cũng được kiểm tra. Không phát hiện ngấm thuốc ngược vào các động mạch khác trong nghiên cứu shunt phổi này. Trong trường hợp có ngấm thuốc ngược, các động mạch này sẽ được embolized trước khi bắt đầu liệu pháp SIRT để ngăn ngừa viêm dạ dày do bức xạ (radiation gastritis) và viêm túi mật cấp (acute cholecystitis) tương ứng.
-
Scintigraphy phẳng (planar scintigraphy) có xu hướng đánh giá thừa (overestimate) tỉ lệ shunt phổi. Ước lượng từ hình ảnh SPECT-CT cho thấy tỉ lệ shunt phổi < 10 %, bệnh nhân được cho liều chuẩn của SIRT. Tuy nhiên, đột phá gan mới xuất hiện 6 tháng sau SIRT. Bệnh nhân tử vong do viêm phổi mắc bệnh trong bệnh viện (hospital acquired pneumonia).
Chẩn đoán
Ước lượng tỉ lệ shunt phổi gan-pulmonary cho liệu pháp phóng xạ nội chọn (Hepato-pulmonary lung shunt fraction estimation for selective internal radiation therapy)
Chẩn đoán phân biệt
- 1.Ung thư tế bào gan tái phát
- 2.Di căn gan
- 3.Các nốt gan lành tính
Điểm giảng dạy
- "Tỉ lệ shunt phổi lớn hơn 20% là chống chỉ định đối với SIRT do nguy cơ cao gây viêm phổi do bức xạ."
- "Kỹ thuật Scintigraphy phẳng có xu hướng đánh giá quá cao tỉ lệ shunt phổi; SPECT-CT cung cấp đánh giá chính xác hơn."
- "Đặt ống động mạch gan qua phương pháp qua động mạch cánh tay (transradial) mang lại các ưu điểm như giảm mất máu và thời gian bất động vị trí chọc ngắn hơn so với tiếp cận qua đùi."







